Biến phụ phẩm thành tài nguyên
Sau mỗi vụ thu hoạch lúa, thay vì đốt rơm rạ ngay trên đồng ruộng như trước đây, nhiều nông dân tại phường Phước Thới, TP Cần Thơ thu gom rơm để trồng nấm. Những cuộn rơm vàng từng bị xem là phụ phẩm bỏ đi nay trở thành nguyên liệu sản xuất, làm tăng thêm thu nhập cho người dân.
Bà Võ Thị Xuân (phường Phước Thới, TP Cần Thơ) cho biết, nghề trồng nấm rơm không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn giúp nông dân góp phần bảo vệ môi trường. Việc tận dụng rơm sau thu hoạch hạn chế tình trạng đốt đồng, qua đó giảm khói bụi và phát thải khí nhà kính. Từ thực tế sản xuất, bà Xuân và nhiều nông dân đã nhìn thấy giá trị của việc tận dụng phụ phẩm ngay trên cánh đồng.
Thế nhưng, khoảng 5 năm trở lại đây, thời tiết vùng Đồng bằng sông Cửu Long không còn “mưa thuận gió hòa” như trước. Những diễn biến thất thường của khí hậu, sự chênh lệch nhiệt độ đột ngột giữa ngày và đêm hay những đợt nắng nóng gay gắt kéo dài, mưa trái mùa, khiến năng suất và chất lượng nấm sụt giảm mạnh.
Những khó khăn bà Xuân và nhiều hộ trồng nấm đang đối mặt cho thấy chuyển đổi xanh không thể chỉ trông chờ vào sự kiên trì đơn độc của người nông dân. Để một mô hình vừa tận dụng phụ phẩm, vừa giảm phát thải có thể đứng vững trước tác động của biến đổi khí hậu, người sản xuất cần được hỗ trợ nhiều hơn về kỹ thuật, công nghệ, tổ chức sản xuất và đầu ra cho sản phẩm.
Cũng từ những vấn đề trên đồng ruộng, yêu cầu hoàn thiện chính sách bảo vệ môi trường, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn ngày càng trở nên cấp thiết. Trên thực tế, nội dung thúc đẩy hoạt động tái chế, tái sử dụng chất thải và phát triển kinh tế tuần hoàn cũng là một nội dung quan trọng được bổ sung trong Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
Theo PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), trong mô hình kinh tế tuần hoàn, phụ phẩm của một khâu sản xuất có thể trở thành đầu vào của quá trình khác. Ví dụ như rơm rạ có thể dùng trồng nấm, sản xuất phân hữu cơ, than sinh học hoặc phục vụ chăn nuôi; chất thải chăn nuôi có thể tạo khí sinh học và phân bón hữu cơ; phụ phẩm trồng trọt có thể quay trở lại cải tạo đất…
Cách tiếp cận này vừa giảm chất thải ra môi trường, vừa tiết kiệm đầu vào và tạo thêm giá trị và sinh kế cho khu vực nông thôn. Từ thực tế ghi nhận tại địa phương, TS Vũ Duy Hoàng – Phó Giám đốc Trung tâm Nông nghiệp sinh thái và Đào tạo nghề, Giảng viên Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam – cho rằng, phát triển kinh tế tuần hoàn không nhất thiết phải bắt đầu từ những dự án lớn hay công nghệ hiện đại. Mỗi địa phương cần xác định được những nguồn phụ phẩm có tiềm năng, có khả năng tạo giá trị và phù hợp với điều kiện sản xuất cũng như năng lực tổ chức của hợp tác xã, thay vì áp dụng một mô hình giống nhau ở mọi nơi.
TS Vũ Duy Hoàng kỳ vọng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và tạo động lực ổn định để thúc đẩy đầu tư khoa học công nghệ, tăng cường phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học, hợp tác xã và nông dân. Đặc biệt, người sản xuất cần được đặt ở vị trí trung tâm và được thụ hưởng lợi ích trực tiếp lợi ích từ các chính sách cũng như kết quả của quá trình chuyển đổi xanh.
Để chuyển đổi xanh mang lại lợi ích cho nông dân
Theo PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã đặt nền móng cho việc áp dụng nhiều công cụ quản lý hiện đại như kiểm kê khí nhà kính, kinh tế tuần hoàn hay thị trường carbon. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng cho thấy, nhiều nội dung cần được điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh mới.
Nhiều quy định trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 được xây dựng khi bộ máy chính quyền địa phương còn tổ chức theo mô hình 3 cấp, trong khi hiện nay đã chuyển sang mô hình 2 cấp. Điều này đòi hỏi phải rà soát lại thẩm quyền, cơ chế phân cấp và trách nhiệm quản lý giữa Trung ương và địa phương.
Bên cạnh đó, nhiều chính sách mới về thị trường carbon, tín chỉ carbon, chuyển đổi số trong quản lý môi trường hay phát triển kinh tế tuần hoàn đã hình thành trong những năm gần đây nhưng chưa được cập nhật đầy đủ.
Theo PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, trong lĩnh vực nông nghiệp, những thay đổi này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi nông nghiệp là một trong những lĩnh vực có tiềm năng rất lớn để giảm phát thải. Không chỉ lâm nghiệp có khả năng hấp thụ carbon, mà trồng lúa, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản cũng có thể tạo ra nguồn tín chỉ carbon nếu tổ chức sản xuất theo quy trình phù hợp.
Thực tế đã chứng minh điều đó khi tại Đồng bằng sông Cửu Long, Đề án phát triển 1 triệu hécta lúa chất lượng cao, phát thải thấp đang từng bước mang lại những kết quả tích cực. Nhiều địa phương như: Cần Thơ, Đồng Tháp, An Giang… đã áp dụng phương pháp tưới ngập – khô xen kẽ, giảm lượng giống gieo sạ, sử dụng phân bón hợp lý và quản lý rơm rạ sau thu hoạch.
Từng giới thiệu và hướng dẫn nông dân về các mô hình trồng lúa phát thải thấp, TS Vũ Duy Hoàng đánh giá, người nông dân và hợp tác xã hiện nay đã khá cởi mở hơn với các giải pháp sản xuất xanh và giảm phát thải với kỹ thuật mới. Điều họ quan tâm nhất là giải pháp đó có phù hợp điều kiện sản xuất, duy trì năng suất và tạo hiệu quả kinh tế hay không.
“Ban đầu, nhiều hộ dân còn băn khoăn vì phải thay đổi tập quán canh tác và lo ngại kỹ thuật sản xuất mới ảnh hưởng đến năng suất, thu nhập. Nhưng khi trực tiếp tham gia thực hiện và chứng kiến kết quả trên chính đồng ruộng của mình, họ đã có niềm tin và chủ động duy trì và nhân rộng mô hình. Tôi tin rằng chuyển đổi xanh sẽ diễn ra nhanh hơn khi người nông dân nhìn thấy lợi ích ngay trên chính đồng ruộng của mình. Khi lợi ích kinh tế song hành với lợi ích môi trường, việc chuyển đổi sẽ trở thành nhu cầu tự nhiên từ thực tiễn sản xuất, chứ không chỉ là yêu cầu từ chính sách” – TS Vũ Duy Hoàng cho biết.
Theo các chuyên gia, mục tiêu cuối cùng của chuyển đổi xanh không chỉ là giảm phát thải mà còn hướng tới nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo vệ tài nguyên và cải thiện sinh kế cho người nông dân. Vì vậy, các giải pháp giảm phát thải cần được lựa chọn theo hướng vừa bảo đảm hiệu quả môi trường, vừa mang lại lợi ích thiết thực cho người sản xuất.

English